Tư Vấn Miễn Phí
Gửi yêu cầu tư vấn

QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỘ KINH DOANH TRÊN SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ KHÔNG CÓ CHỨC NĂNG THANH TOÁN RA SAO NĂM 2026?

Năm 2026, hoạt động quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số đã được điều chỉnh theo khung mới tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP và Thông tư 18/2026/TT-BTC. Một trong những nội dung được quan tâm nhiều là trường hợp hộ kinh doanh bán hàng trên sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế như thế nào, có còn áp dụng thủ tục kê khai riêng như trước hay không, và người bán phải dùng mẫu biểu nào để thực hiện đúng quy định.

Điểm đáng chú ý là từ 06/04/2026, thủ tục hành chính riêng dành cho hộ, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng thanh toán đã bị bãi bỏ theo Quyết định 844/QĐ-BTC. Sau mốc này, việc thực hiện nghĩa vụ thuế được chuyển sang cơ chế chung theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP và hồ sơ, thủ tục tại Thông tư 18/2026/TT-BTC.

Nói cách khác, thay đổi mới không phải là “bỏ thuế” hay “miễn kê khai”, mà là bỏ thủ tục riêng để đưa nhóm hộ kinh doanh này vào cơ chế quản lý chung, rõ hơn về doanh thu, hồ sơ, kỳ khai và trách nhiệm thực hiện.
QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỘ KINH DOANH TRÊN SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ KHÔNG CÓ CHỨC NĂNG THANH TOÁN RA SAO NĂM 2026?
QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỘ KINH DOANH TRÊN SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ KHÔNG CÓ CHỨC NĂNG THANH TOÁN RA SAO NĂM 2026?

    Sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán là gì?

    Để hiểu đúng quy định, trước hết cần phân biệt giữa hai nhóm nền tảng. Theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP, chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm thực hiện khấu trừ, khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ đối với từng giao dịch của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Ngược lại, đối với hộ kinh doanh, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng không có chức năng đặt hàng trực tuyến và không có chức năng thanh toán, người bán có trách nhiệm tự kê khai, nộp thuế theo Điều 8, Điều 9 và Điều 10 của Nghị định này.

    Vì vậy, khi nói đến “sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán”, cần hiểu đây là loại nền tảng chỉ đóng vai trò giới thiệu, trưng bày, kết nối hoặc hỗ trợ giao dịch, nhưng không trực tiếp xử lý thanh toán giữa người mua và người bán. Trong nhóm này, nghĩa vụ thuế không tự động chuyển sang nền tảng, mà phần lớn vẫn do chính hộ kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh thực hiện.

    Đây là điểm mà nhiều người bán hàng online thường hiểu nhầm. Không phải cứ bán trên nền tảng số là nền tảng sẽ khai và nộp thuế thay. Việc xác định ai là người thực hiện nghĩa vụ thuế phụ thuộc rất lớn vào việc nền tảng đó có hay không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán theo quy định pháp luật.

    Điểm mới lớn nhất năm 2026 là gì?

    Điểm mới quan trọng nhất là từ 06/04/2026, thủ tục kê khai riêng đối với hộ kinh doanh trên sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán đã chính thức bị bãi bỏ. Bài hướng dẫn của Thư Viện Pháp Luật về Quyết định 844/QĐ-BTC nêu rõ Bộ Tài chính đã bãi bỏ thủ tục kê khai, nộp thuế của hộ, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng thanh toán, hồ sơ thủ tục số 1.014031, và thủ tục thay thế được thực hiện theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP.

    Nguồn hướng dẫn cùng chủ đề cũng xác nhận rằng từ 06/04/2026, hộ kinh doanh trên sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán không còn kê khai theo thủ tục riêng nữa, mà chuyển sang áp dụng cơ chế chung theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP.
    Vì vậy, nếu viết bài theo đúng pháp luật hiện hành, cần nhấn mạnh rõ: quy định mới không phải là miễn nghĩa vụ thuế, mà là thay đổi cách thực hiện thủ tục. Từ nay, người bán sẽ không đi theo thủ tục riêng cũ, mà phải xác định mình thuộc diện doanh thu nào, áp dụng mẫu biểu nào, kỳ khai nào và hạn nộp nào theo cơ chế chung.

    Hộ kinh doanh trên sàn không có chức năng thanh toán có phải tự kê khai, tự nộp thuế không?

    Nghị định 68/2026/NĐ-CP quy định rất rõ: hộ kinh doanh, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm tự kê khai, nộp thuế theo Điều 8, Điều 9 và Điều 10 của Nghị định.

    Điều này có nghĩa là nếu bạn bán hàng trên một nền tảng chỉ có chức năng giới thiệu sản phẩm, kết nối khách hàng, nhận tin nhắn, hỗ trợ đăng bán, nhưng tiền hàng được người mua chuyển khoản trực tiếp cho bạn, thanh toán COD cho bạn, hoặc thanh toán qua ví điện tử mà không phải qua cơ chế xử lý thanh toán của nền tảng, thì về nguyên tắc bạn vẫn là người phải tự thực hiện nghĩa vụ thuế.

    Ngược lại, chỉ trong trường hợp nền tảng thuộc nhóm có cả đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán, chủ quản nền tảng mới có trách nhiệm khấu trừ, khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ cho từng giao dịch theo quy định. Đây là ranh giới pháp lý rất quan trọng và cần được trình bày rõ trong bài viết để tránh người đọc hiểu sai.

    Doanh thu 500 triệu đồng/năm ảnh hưởng thế nào?

    Mốc 500 triệu đồng/năm là một trong những nội dung quan trọng nhất khi áp dụng cơ chế mới. Theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP, cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ kinh doanh, nếu có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Nếu doanh thu năm trên 500 triệu đồng, người kinh doanh thực hiện nộp thuế theo quy định tương ứng.

    Tuy nhiên, điều rất quan trọng là dưới ngưỡng 500 triệu đồng không có nghĩa là không phải làm gì cả. Nghị định 68 quy định trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế chậm nhất là ngày 31/01 của năm dương lịch tiếp theo.

    Đối với người mới bắt đầu kinh doanh trong năm, quy định cũng chi tiết hơn. Nếu bắt đầu hoạt động trong 06 tháng đầu năm và có doanh thu thực tế từ 500 triệu đồng trở xuống, thì phải thông báo doanh thu phát sinh đến hết ngày 30/6 chậm nhất là 31/7, và thông báo doanh thu 06 tháng cuối năm chậm nhất là 31/01 năm sau. Nếu bắt đầu hoạt động trong 06 tháng cuối năm và doanh thu vẫn từ 500 triệu đồng trở xuống, thì thông báo doanh thu chậm nhất là 31/01 năm sau. Nếu mới ra kinh doanh mà doanh thu lũy kế vượt 500 triệu đồng, thì phải chuyển sang khai thuế theo quý kể từ quý phát sinh doanh thu vượt ngưỡng này.

    Như vậy, trong bài viết nên nhấn rất rõ: 500 triệu đồng là mốc để phân luồng cách thực hiện nghĩa vụ thuế, chứ không phải một ngưỡng để bỏ qua việc thông báo hoặc hồ sơ liên quan.

    Mẫu biểu nào phải dùng?

    Đây là phần người đọc quan tâm nhất vì liên quan trực tiếp đến thao tác thực tế.

    Theo Thông tư 18/2026/TT-BTC, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thuế suất nhân với doanh thu tính thuế, hồ sơ khai thuế GTGT, thuế TNCN và các loại thuế khác là Tờ khai Mẫu số 01/CNKD. Thông tư này cũng quy định với đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân với thuế suất thì hồ sơ khai trong năm vẫn là Mẫu số 01/CNKD, còn hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân là Mẫu số 02/CNKD-TNCN-QTT.

    Riêng theo hướng dẫn về việc bãi bỏ thủ tục cũ theo Quyết định 844/QĐ-BTC, trường hợp doanh thu trên 500 triệu đồng/năm thì kê khai theo Mẫu 01/CNKD, chọn mục dành cho hộ kinh doanh chỉ có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán.

    Với Mẫu 01/TKN-CNKD, kết quả tìm trong Thông tư 18 cho thấy đây là mẫu được dùng trong một số trường hợp về tờ khai thuế năm và hồ sơ đề nghị hoàn thuế nộp thừa đối với cá nhân kinh doanh theo phương pháp thuế suất nhân với doanh thu tính thuế. Vì vậy, khi viết bài nên dùng mẫu này đúng bối cảnh là mẫu thông báo/tờ khai năm theo cơ chế áp dụng, tránh diễn đạt quá rộng rằng mọi trường hợp dưới 500 triệu đều luôn chỉ dùng 01/TKN-CNKD.

    Với Mẫu 01/BK-STK, Thông tư 18 quy định đây là Thông báo số tài khoản/số hiệu ví điện tử. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang hoạt động thuộc các đối tượng được nêu tại khoản 4 Điều 17 Nghị định 68 phải gửi mẫu này theo các mốc khác nhau: có nhóm phải gửi chậm nhất 20/4/2026, có nhóm gửi kèm theo tờ khai thuế đầu tiên của năm 2026, và hộ mới ra kinh doanh gửi kèm theo thông báo doanh thu hoặc tờ khai thuế đầu tiên của năm 2026.
    Do đó, nếu muốn bài viết chính xác và dễ hiểu, nên trình bày mẫu biểu theo cách sau:

    • Mẫu 01/CNKD: dùng cho hồ sơ khai thuế trong năm của nhóm thuộc diện phải khai thuế.
    • Mẫu 01/TKN-CNKD: dùng trong các trường hợp tờ khai năm/hoàn thuế theo cơ chế áp dụng tại Thông tư 18; cần viện dẫn đúng bối cảnh thay vì khẳng định chung cho mọi trường hợp.
    • Mẫu 01/BK-STK: dùng để thông báo số tài khoản ngân hàng hoặc số hiệu ví điện tử dùng cho hoạt động kinh doanh.

    Thời hạn nộp hồ sơ và nộp thuế

    Nghị định 68/2026/NĐ-CP quy định khá rõ về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế. Trường hợp khai thuế theo quý, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu tiên của quý tiếp theo. Trường hợp khai thuế theo tháng, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo. Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.
    Đối với nhóm doanh thu năm trên 500 triệu đồng, Điều 10 của Nghị định 68 quy định thêm:

    • Nếu doanh thu năm từ 50 tỷ đồng trở xuống thì khai thuế GTGT theo quý.
    • Nếu doanh thu năm trên 50 tỷ đồng thì khai thuế GTGT theo tháng.

    Về thuế thu nhập cá nhân, người kinh doanh lựa chọn nộp theo phương pháp thuế suất nhân với doanh thu tính thuế thì thực hiện khai, nộp thuế TNCN theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế GTGT; còn trường hợp thuộc đối tượng nộp theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân với thuế suất thì thực hiện khai tạm nộp theo tháng hoặc quý trên cùng hồ sơ khai thuế GTGT và quyết toán thuế TNCN theo năm.
    Bài viết vì vậy nên tách rõ hai lớp thời hạn:

    • Một là thời hạn thông báo doanh thu đối với nhóm từ 500 triệu đồng trở xuống;
    • Hai là thời hạn khai thuế và nộp thuế đối với nhóm trên 500 triệu đồng. Làm như vậy sẽ đúng chủ đề và giúp người đọc dễ hành động hơn.

    Hộ kinh doanh cần chuẩn bị gì để làm đúng?

    Nếu bán hàng trên nền tảng không có chức năng thanh toán, hộ kinh doanh nên chuẩn bị tối thiểu các nội dung sau: mã số thuế hoặc thông tin đăng ký thuế, dữ liệu doanh thu thực tế phát sinh; số tài khoản ngân hàng hoặc số hiệu ví điện tử dùng trong hoạt động kinh doanh; hồ sơ, chứng từ phản ánh doanh thu bán hàng; và việc theo dõi doanh thu lũy kế để biết mình đang ở dưới hay trên mốc 500 triệu đồng/năm. Những yêu cầu này phù hợp với khung thủ tục thông báo doanh thu, kê khai thuế và thông báo số tài khoản, ví điện tử trong Nghị định 68 và Thông tư 18.

    Ngoài ra, Nghị định 68 cũng nêu nguyên tắc người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế bằng phương thức điện tử, trừ một số trường hợp đặc biệt không thể thực hiện giao dịch điện tử thì mới được nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính đến Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã. Điều này cho thấy xu hướng quản lý là đẩy mạnh kê khai, nộp hồ sơ qua hệ thống điện tử.

    Những hiểu nhầm thường gặp

    Một là, nhiều người cho rằng bán trên nền tảng không có chức năng thanh toán thì không phải kê khai gì cả. Cách hiểu này là sai. Nghị định 68 quy định rõ nhóm này tự kê khai, nộp thuế theo Điều 8, 9, 10.

    Hai là, nhiều người nghĩ dưới 500 triệu đồng/năm thì hoàn toàn không còn nghĩa vụ gì. Điều này cũng không đúng, vì trường hợp dưới ngưỡng vẫn phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm theo thời hạn luật định.

    Ba là, có người hiểu việc bãi bỏ thủ tục riêng từ 06/04/2026 là đồng nghĩa với miễn thuế hoặc không cần nộp hồ sơ nữa. Thực tế, Quyết định 844/QĐ-BTC chỉ bãi bỏ thủ tục riêng, còn nghĩa vụ thuế vẫn tiếp tục được thực hiện theo cơ chế chung tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP và Thông tư 18/2026/TT-BTC.

    Các câu hỏi thường gặp?

    1. Hộ kinh doanh bán hàng trên sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán có phải tự kê khai thuế năm 2026 không?
      icon tl Trả Lời :  Có. Theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP, hộ kinh doanh, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử hoặc nền tảng số khác không có chức năng đặt hàng trực tuyến và không có chức năng thanh toán thì tự kê khai, tự nộp thuế theo quy định áp dụng cho mình. Nghĩa là nền tảng không khấu trừ và nộp thay như nhóm có thanh toán tích hợp.
    2. Doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm khi bán hàng online có phải nộp thuế không?
    icon tl Trả Lời Theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP, cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh (bao gồm người đại diện hộ kinh doanh) có doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, người kinh doanh vẫn phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm cho cơ quan thuế đúng thời hạn, không phải “không cần làm gì”.
    3. Bán hàng trên Facebook, Zalo, TikTok nhận tiền chuyển khoản cá nhân có bị áp dụng quy định mới không?
    icon tl Trả Lời Có thể có. Nếu bạn dùng Facebook, Zalo, TikTok hoặc nền tảng khác để bán hàng, chốt đơn và nhận tiền trực tiếp qua tài khoản cá nhân, ví điện tử hoặc COD, thì đây vẫn có thể được xem là hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Khi đó, nghĩa vụ thuế được xác định theo doanh thu thực tế và mô hình kinh doanh, không phụ thuộc việc tiền về tài khoản cá nhân hay tài khoản công ty.
    4. Hộ kinh doanh online năm 2026 phải dùng mẫu 01/CNKD, 01/TKN-CNKD hay 01/BK-STK trong trường hợp nào?
    icon tl Trả Lời :

    • Mẫu 01/CNKD: dùng cho hồ sơ khai thuế trong năm của hộ kinh doanh/cá nhân kinh doanh thuộc diện phải khai thuế theo quy định.
    • Mẫu 01/TKN-CNKD: dùng trong một số trường hợp tờ khai thuế năm hoặc hồ sơ hoàn thuế nộp thừa theo Thông tư 18/2026/TT-BTC.
    • Mẫu 01/BK-STK: dùng để thông báo số tài khoản ngân hàng hoặc số hiệu ví điện tử sử dụng trong hoạt động kinh doanh khi thuộc diện phải thông báo.

    5. Nếu không kê khai thuế khi bán hàng trên sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán sẽ bị xử phạt thế nào?
    icon tl Trả Lời Tùy hành vi vi phạm, người kinh doanh có thể bị:

    • Phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế
    • Truy thu số thuế còn thiếu
    • Tiền chậm nộp thuế
    • Phạt khai sai dẫn đến thiếu thuế
    • Nếu cố tình che giấu doanh thu, có thể bị xử phạt về trốn thuế theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

    Mức phạt cụ thể phụ thuộc số tiền thuế thiếu, thời gian vi phạm và tính chất hành vi. Vì vậy, bán hàng online nhưng không kê khai đúng quy định là rủi ro rất lớn trong năm 2026.

    Tóm lại, quy định mới về hộ kinh doanh trên sàn thương mại điện tử không có chức năng thanh toán năm 2026 có thể hiểu ngắn gọn như sau: từ 06/04/2026, thủ tục kê khai riêng cũ bị bãi bỏ; thay vào đó, hộ kinh doanh và cá nhân cư trú bán hàng trên nền tảng không có chức năng đặt hàng trực tuyến và không có chức năng thanh toán phải tự kê khai, tự nộp thuế theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP. Nếu doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống, người bán phải thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh theo thời hạn luật định; nếu doanh thu năm trên 500 triệu đồng, người bán thực hiện khai thuế theo cơ chế tương ứng và dùng hồ sơ, mẫu biểu tại Thông tư 18/2026/TT-BTC, trong đó có Mẫu 01/CNKD và Mẫu 01/BK-STK khi thuộc diện phải thông báo tài khoản, ví điện tử.

    Tác giả: TAF Boss

    Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

    Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
    Click để đánh giá bài viết
    Dịch vụ của chúng tôi
    Gửi yêu cầu tư vấn
    0924 580 580
    Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây